Hình ảnh hoạt động
35 NĂM PHỤC HƯNG DI SẢN VĂN HÓA CỐ ĐÔ HUẾ
Cập nhật ngày: 15/07/2017 09:59:37
Trong các cố đô của Việt Nam, Huế là nơi duy nhất còn bảo lưu được khá nguyên vẹn tổng thể kiến trúc nghệ thuật Cung đình, với hệ thống Thành quách, Cung điện, Miếu đường, Đền đài, Lăng tẩm. Thành phố Huế là sự kết hợp hài hoà giữa các yếu tố con người, kiến trúc và cảnh quan thiên nhiên, là điển hình của loại hình kiến trúc cảnh vật hoá- một loại hình kiến trúc đậm đà bản sắc dân tộc và giàu tính nhân văn. Đặc điểm này đặt ra một yêu cầu rất nghiêm ngặt là vừa phải bảo vệ tổng thể di tích bao gồm bảo vệ các công trình kiến trúc gắn liền với bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, bảo vệ di sản văn hoá vật chất đi đôi với bảo vệ và phát huy những giá trị văn hoá tinh thần.
Điện Thái Hòa, nhìn từ lầu Ngũ Phụng, Ngọ Môn

Các trận chiến ác liệt năm 1947, mùa Xuân năm 68… đã phá hủy hàng loạt công trình thuộc Kinh thành; điện Cần Chánh và hàng loạt cung điện trong Tử Cấm Thành bị thiêu rụi; Trấn Bình Đài bị quân Pháp và sau đó là quân đội Sài Gòn biến thành khu vực quân sự mà hậu quả vẫn còn đến bây giờ; khu vực Văn- Võ Miếu cũng chịu chung số phận như Trấn Bình Đài; đàn Nam Giao bị chặt trụi thông và triệt phá hầu hết các công trình; những khu vực lăng tẩm, hoặc nằm trong khu vực tranh chấp, hoặc là rơi vào khu vực thiếu an ninh nên bị huỷ hoại hoặc lãng quên trong bom đạn. Thêm vào đó, các thiên tai tàn khốc, như trận lũ năm 1953, trận bão năm 1985, trận lụt lịch sử năm 1999... đã tiếp tục tấn công và huỷ diệt các di tích[1]

Sau chiến tranh, toàn bộ khu vực Tử Cấm Thành gần như bị xoá sổ. Khu vực Hoàng Thành chỉ còn lại 62 công trình so với 136 công trình kiến trúc lúc nguyên thuỷ (số liệu do Nguyễn Bá Lăng thống kê trong bài Danh sách cung điện trong Đại Nội Huế). Khu vực Kinh thành chỉ còn 97 công trình trong tình trạng hư hỏng nặng. Lăng Gia Long còn 10/15 công trình, lăng Minh Mạng còn 28/35 công trình, lăng Thiệu Trị còn 16/25 công trình, lăng Tự Đức còn 16/20 công trình, lăng Khải Định còn 16/20 công trình, khu vực Văn Miếu còn 11/15 công trình... Toàn bộ quần thể di tích cố đô Huế sau chiến tranh còn khoảng 300 công trình lớn nhỏ bao gồm: thành quách, cung điện, đền miếu, lầu gác, lăng mộ, cầu cống, đình tạ... hầu hết đều bị hư hỏng ở những mức độ khác nhau, hoặc bị dột nát, nứt vỡ bờ nóc, bờ quyết, các cấu kiện chịu lực mục ruỗng, nhiều công trình hư hỏng nghiêm trọng, có nguy cơ đổ sụp vào bất kỳ lúc nào; hơn 42 ha tường thành bị cây cỏ xâm thực, 100.000m2 ao hồ cần được nạo vét, 33 cầu cống và 20km đường đi trong các di tích bị hư hại nặng cần phải tu sửa cấp thiết…

Các di sản phi vật thể cũng bị hủy hoại, thất tán hầu hết. Hệ thống lễ hội cung đình đã không còn tồn tại sau khi triều Nguyễn chấm dứt; các hình thức diễn xướng cung đình như Nhã nhạc, tuồng cung đình, múa cung đình… tản mát và biến tướng trong dân gian; hệ thống ngành nghề thủ công truyền thống phong phú vốn phục vụ chính cho chốn cung đình cũng thất tán, mai một; hệ thống sách vở, tư liệu đồ sộ của triều Nguyễn cũng bị hủy hoại hoặc bị di chuyển đi phần lớn.

Đúng 35 năm trước, vào ngày 10.6.1982, Công ty Quản lý Di tích Lịch sử và Văn hóa Huế được thành lập. Ngày 30 tháng 5 năm 1992, UBND tỉnh Thừa Thiên Huế đã ra quyết định số 443/QĐ-UBND đổi tên Công ty thành Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế. Đây là đơn vị sự nghiệp trực thuộc UBND tỉnh Thừa Thiên Huế, được giao nhiệm vụ trực tiếp quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị kho tàng di sản văn hóa cung đình gắn liền với vương triều Nguyễn, bao gồm các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể và cảnh quan môi trường gắn liền với khu di sản[2].

Amadou Mahtar M’Bow, Tổng Giám đốc UNESCO từ năm 1974 - 1980
Trong hoàn cảnh khó khăn của đất nước sau chiến tranh, việc bảo tồn di sản văn hóa Huế gặp muôn vàn khó khăn. Năm 1981, trong Lời kêu gọi cứu vãn di sản văn hóa Huế tại Hà Nội, Tổng giám đốc UNESCO lúc bấy giờ - Ngài M’Bow - đã cho rằng, di sản Huế đang ở trong tình trạng lâm nguy, đang đứng bên vực thẳm của sự diệt vong và sự quên lãng…chỉ có “một sự cứu nguy khẩn cấp” với nỗ lực của Chính phủ Việt Nam cùng cộng đồng quốc tế thì mới có thể giúp Huế thoát ra khỏi tình trạng trên.

Hơn một thập kỷ tiếp theo là khoảng thời gian chứng kiến sự chuyển biến tích cực trong việc gìn giữ, bảo tồn di sản Huế. Tiến trình khôi phục quần thể di tích cố đô Huế là kết quả của những nỗ lực to lớn của chính phủ Việt Nam, của chính quyền tỉnh Thừa Thiên Huế và của Trung tâm. Cho đến năm 1991, hầu hết các di tích quan trọng đã được lập hồ sơ khoanh vùng bảo vệ. Năm 1993, Quần thể Di tích Cố đô Huế đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới.

Dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Thừa Thiên Huế và Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), công cuộc bảo tồn Di tích Cố đô Huế đã được triển khai và đạt kết quả to lớn. Năm 2003, Nhã nhạc-âm nhạc cung đình Việt Nam được UNESCO vinh danh là Di sản Văn hóa Phi vật thể đại diện của nhân loại. Di sản văn hoá Huế đã vượt qua giai đoạn cứu nguy  khẩn cấp và đang từng bước được hồi sinh, diện mạo ban đầu của một Cố đô lịch sử dần dần được hồi phục. Theo đánh giá của UNESCO, công cuộc bảo tồn di tích Huế hiện đang chuyển sang giai đoạn ổn định và phát triển bền vững. Đặc biệt, việc bảo tồn các giá trị di sản văn hóa đã luôn gắn chặt với quá trình khai thác, phát huy và tạo điều kiện cho việc phát triển kinh xã hội của tỉnh và khu vực miền Trung, trọng tâm là kinh tế du lịch, dịch vụ.  

Những kết quả quan trọng ấy được thể hiện trên các mặt: Bảo tồn, trùng tu di tích; bảo tồn văn hóa phi vật thể; bảo tồn, tôn tạo cảnh quan môi trường các khu di sản; hợp tác quốc tế, ứng dụng thành tựu khoa học bảo tồn và đào tạo nguồn nhân lực; phát huy giá trị di sản.

-Về công tác bảo tồn, trùng tu di tích:                       

Đây là một trong những hoạt động cơ bản nhất của công tác bảo tồn di sản Huế trong những năm qua, cũng là lĩnh vực được đầu tư lớn nhất về kinh phí và chất xám[3]. Hầu hết các di tích đều được bảo quản cấp thiết, bằng các biện pháp chống dột, chống sập, chống mối mọt, chống cây cỏ xâm thực, gia cố và thay thế các bộ phận bị lão hóa . . . nhờ vậy mà trong điều kiện thiên tai khắc nghiệt xảy ra liên tiếp, các di tích vẫn được bảo tồn và kéo dài tuổi thọ. Điều quan trọng là, các di tích đã được tu bổ đều đảm bảo các nguyên tắc khoa học về bảo tồn của quốc gia và thỏa mãn các điều luật của Hiến chương, Công ước quốc tế mà Chính phủ ta đã công nhận và tham gia, được các nhà khoa học trong nước và quốc tế đánh giá cao.

Cũng chính qua thực tiễn của công cuộc bảo tồn tôn tạo di tích Huế mà đội ngũ cán bộ, kỹ thuật viên của Trung tâm đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm quý báu và phong phú, đặc biệt đã nắm vững cả 2 mặt cốt yếu của phương pháp trùng tu khoa học: Đó là phương pháp luận khoa học kỹ năng thực hiện, vì vậy các hoạt động trùng tu đã đem lại những hiệu quả tích cực.

Công tác bảo tồn, trùng tu di tích đã đem lại những hiệu quả tích cực về mặt kinh tế và xã hội: góp phần quan trọng trong việc chỉnh trang diện mạo đô thị và khu dân cư, thu hút du khách đến Huế, tăng các nguồn doanh thu du lịch và dịch vụ, tạo ra sự quan tâm đặc biệt của các tầng lớp xã hội đối với di sản văn hóa truyền thống[4]

          - Về công tác bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể 

Các di sản văn hóa phi vật thể của Huế hết sức phong phú và đa dạng. Tại Dự án Quy hoạch, Bảo tồn và Phát huy Giá trị Di tích Cố đô Huế, 1996-2010 và dự án điều chỉnh đến năm 2020, việc nghiên cứu, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa trên chủ yếu được xác định trong phạm vi văn hóa cung đình thời Nguyễn, gồm: Thơ văn Hán Nôm trên di tích, văn bia, thơ Ngự chế được trang trí ở các cung điện, các hoa văn họa tiết trang trí mỹ thuật gắn liền với di tích kiến trúc, lễ nhạc Cung đình, múa hát Cung đình, lễ hội Cung đình, tuồng Ngự, ca Huế ...  .

Thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế được UNESCO công nhận là Di sản tư liệu thuộc Chương trình Ký ức Thế giới khu vực Châu Á - Thái Bình Dương ngày 19/5/2016

Tính từ năm 1982 đến nay, Trung tâm đã triển khai hàng chục công trình nghiên cứu khoa học về Di sản văn hóa Huế (vật thể và phi vật thể), tổ chức biên soạn và xuất bản nhiều công trình nghiên cứu khoa học có giá trị, tổ chức đào tạo nhân lực... trong đó có những công trình đoạt giải thưởng cao của trung ương và địa phương. Nghiên cứu phục hồi một số lễ hội cung đình quan trọng nhất của triều Nguyễn như lễ Tế Giao, lễ tế Xã Tắc, lễ Truyền Lô- Vinh quy bái tổ (lễ vinh danh Tiến Sĩ dưới thời Nguyễn), lễ hội thi Tiến sĩ Võ; những lễ hội mang màu sắc văn hóa cung đình như Huyền thoại sông Hương, Đêm Hoàng cung, Hành trình mở cõi, Thiên hạ thái bình ...Đặc biệt là trong các dịp lễ hội Festival Huế, các loại hình nghệ thuật Cung đình, bao gồm cả lễ hội, âm nhạc, nghệ thuật thư pháp, nghệ thuật ẩm thực, trò chơi… đã thực sự đóng vai trò trung tâm trong các hoạt động của Thừa Thiên Huế, trở thành đại diện tiêu biểu của văn hóa Huế trong sự đối thoại, giao lưu với bạn bè quốc tế.

-Về công tác bảo tồn, tôn tạo cảnh quan môi trường các khu di sản

Nằm trong lòng của “một kiệt tác về thơ kiến trúc đô thị”, phần lớn các di tích của Huế đều là những kiến trúc nghệ thuật được bố trí hài hòa với thiên nhiên trong những không gian rất rộng lớn. Cũng chính vì thế mà việc bảo tồn, tôn tạo cảnh quan môi trường các khu di tích gặp không ít khó khăn. Thêm vào đó, số lượng dân cư sống trong các khu vực bảo vệ di tích rất lớn, chiếm xấp xỉ 1/2 dân số thành phố. Vì vậy, mọi hoạt động liên quan đến bảo vệ di tích đều có ảnh hưởng nhất định đến cuộc sống của người dân và nhu cầu phát triển[5].

Trong những năm qua, phần lớn các di tích chính đã được đầu tư tu bổ và tôn tạo hệ thống sân vườn, cảnh quan và trồng cây bổ sung ở các khu vực đệm. Nổi bật như việc trồng lại vành đai xanh lăng vua Minh Mạng, tôn tạo phục hồi cảnh quan vườn Cơ Hạ, xây dựng vườn ươm Văn Thánh và vườn ươm lăng Cao Hoàng để cung cấp cây giống và hoa kiểng cho toàn bộ khu di tích…Trung tâm đã thành lập phòng Cảnh quan Môi trường với hơn 80 cán bộ, kỹ sư, nghệ nhân chuyên làm công tác vệ sinh môi trường, gây dựng và trồng mới cây xanh, hoa kiểng, nghiên cứu tôn tạo môi trường cảnh quan, thu hẹp không gian hoang phế, từng bước trả lại các giá trị cảnh quan vốn có của Cố đô, mang lại sinh khí cho di tích, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân, góp phần quan trọng trong việc giao lưu và hợp tác văn hóa trong nước và quốc tế.

Cảnh quan môi trường Sông Hương nhìn từ Kỳ Đài

Bên cạnh đó, việc nâng cấp cơ sở hạ tầng và các trục đường Thành phố Huế đã được quan tâm, nhất là các trục đường trong Kinh Thành, đường đến một số điểm di tích. Đặc biệt là việc chỉnh trang, tôn tạo 2 bên bờ sông Hương, nạo vét sông Ngự Hà và tu bổ kè Hộ Thành Hào đã tạo điều kiện để phát triển dân sinh và chỉnh trang đô thị. Việc giải tỏa gần 300 hộ dân ở khu vực Bến Me và Hộ Thành Hào, hơn 75 hộ dân ở Thượng thành mặt Nam, hàng chục hộ dân ở đàn Xã Tắc, Võ Miếu, gần 100 hộ dân dọc theo Ngự Hà…với kinh phí hàng chục tỉ đồng phần nào trả lại cảnh quan cho mặt Nam Kinh thành Huế.

- Về lĩnh vực hợp tác quốc tế, ứng dụng thành tựu khoa học bảo tồn và đào tạo nguồn nhân lực

Đây cũng là một trong những lĩnh vực hoạt động đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Trong những năm qua, thông qua bảo tồn di sản, cố đô Huế đã hợp tác với gần 30 tổ chức quốc tế, hàng chục các viện, trường đại học, ban ngành trong nước để tiến hành các hoạt động nghiên cứu bảo tồn di sản cả trên lĩnh vực văn hóa vật thể, phi vật thể và cảnh quan môi trường.

Với lợi thế là cố đô lịch sử, nơi đang gìn giữ các di sản thế giới của Việt Nam, Huế đã đón tiếp hàng loạt các nguyên thủ quốc gia đến thăm và làm việc, điển hình như Tổng thống Ba Lan, Thái tử Na Uy, Tổng bí thư kiêm chủ tịch nước Trung Hoa Giang Trạch Dân, Thái tử Nhật Bản Naruhito, Quốc vương Campuchia… và mới đây nhất là Nhật hoàng và hoàng hậu Nhật Bản, qua đó góp phần thúc đẩy mối quan hệ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa.

Ngài Đại sứ Hoa Kỳ, Ted Osius thăm công trình bảo tồn tu bổ Triệu Tổ Miếu

Với các tổ chức quốc tế, Huế đã có sự hợp tác với UNESCO, Nhật Bản (Quỹ Toyota, Quỹ Japan Foundation, Trường đại học Nữ Sowa, Đại học Nihon, Đại học Waseda ...), Ba Lan, Canada, Pháp, Anh, Mỹ, Cộng hòa liên bang Đức, Thái Lan, Bỉ, Hàn Quốc, Hà Lan, Hoa Kỳ… thực hiện hàng chục dự án trùng tu, nghiên cứu bảo tồn và đào tạo nguồn nhân lực hết sức có ý nghĩa. Nổi bật trong đó là dự án hợp tác nghiên cứu kiến trúc truyền thống Huế và phục hồi điện Cần Chánh (phối hợp với Đại học Waseda) đã thực hiện được hơn 20 năm qua (1994-2016), dự án hợp tác với nhóm chuyên gia Cộng hòa Liên bang Đức để phục hồi tranh tường cung An Định, khu vực lăng mộ vua Tự Đức, công trình Tả Vu điện Cần Chánh; dự án hợp tác với Nhật Bản, Hàn Quốc và UNESCO để thực hiện Chương trình quốc gia về bảo tồn và phát huy Nhã nhạc cung đình Huế (2005-2008)…

Huế cũng đã có mối quan hệ hợp tác rộng rãi với nhiều đơn vị, bộ ngành trong nước để thực hiện các dự án quy hoạch, bảo tồn và đào tạo nhân lực; tiêu biểu như Đại học Huế, Trường đại học Kiến trúc Hà Nội, Viện Quy hoạch Đô thị và Nông thôn, Viện Khoa học Công nghệ Xây dựng, Viện Bảo tồn Di tích, Công ty Tu bổ Di tích Trung ương, Viện Âm nhạc Việt Nam, Nhạc viện Hà Nội, Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh, Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Viện Sử học, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I, IV…

Chính qua các dự án hợp tác nói trên, đội ngũ cán bộ, chuyên viên, nghệ sĩ của Di tích Huế đã được đào tạo, trau dồi kiến thức thường xuyên và không ngừng trưởng thành. Từ năm 1996 đến nay, Di tích Huế đã đào tạo được 01 Tiến sĩ và 5 Thạc sĩ ở nước ngoài, 5 Tiến sĩ và 30 Thạc sĩ trong nước, 20 Cử nhân Đại học Nhã nhạc cùng hàng chục Cử nhân, nghệ nhân, nghệ sỹ ở nhiều chuyên ngành khác nhau. Nhà hát Nghệ thuật Truyền thống Cung đình Huế cũng đã có 1 Nghệ sỹ Nhân Dân, 08 Nghệ sỹ Ưu Tú được Nhà nước phong tặng danh hiệu. Trung tâm cũng đã tổ chức hàng chục lớp đào tạo nghiệp vụ hoặc cử chuyên viên tham gia các lớp đào tạo nghiệp vụ về bảo tồn trùng tu di sản, nghiên cứu văn hóa phi vật thể, bảo tàng học... Đội ngũ cán bộ, chuyên viên, nghệ sĩ đó đã trở thành lực lượng nòng cốt trong các hoạt động bảo tồn di sản trên tất cả các lĩnh vực hoạt động; nhiều người trong số đó đã trở thành cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn chủ chốt của các ban ngành.

-Khai thác và phát huy giá trị các di sản

Khai thác và phát huy giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể Di tích Cố đô Huế là giải pháp tốt nhất để bảo tồn di tích, làm cho di tích sống, hòa vào cuộc sống của xã hội đương đại, có tác dụng giáo dục và nâng cao đời sống văn hóa của nhân dân, góp phần phát triển kinh tế, tạo nguồn sinh lợi để bảo tồn di tích.

Chương trình "Tuần lễ Vàng Du lịch" được triển khai tại Di tích Huế từ năm 2012

Riêng tại khu di tích Huế, doanh thu trực tiếp từ vé tham quan từ năm 1996 đến năm 2016 đã đạt hơn 1.536 tỷ đồng, doanh thu từ hoạt động dịch vụ đạt hơn 100 tỷ đồng[6], và hiện nay tốc độ doanh thu đang tăng nhanh, ổn định. Chính nguồn thu này đã góp phần rất quan trọng trong việc tái đầu tư cho hoạt động bảo tồn di sản và cải thiện đời sống của những người làm công tác bảo tồn.

Tuy nhiên, để phát huy hơn nữa hiệu quả của việc phát triển hoạt động dịch vụ ngay trong địa bàn khu di sản Huế, Trung tâm đã xây dựng một đề án tổng thể về quy hoạch và phát triển hoạt động dịch vụ đến năm 2020, ngày 5/12/2012, Chủ tịch UBND tỉnh TTH đã ra quyết định phê duyệt đề án này. Đây chính là cơ sở pháp lý quan trọng để Trung tâm đẩy mạnh các hoạt động dịch vụ, đưa doanh thu của hoạt động này chiếm tỷ trọng ngày càng tăng trong cơ cấu doanh thu của đơn vị.

Xác định rõ di sản văn hóa là thế mạnh của vùng đất, việc bảo tồn di sản văn hóa cố đô Huế phải làm nền tảng cho kinh tế du lịch dịch vụ phát triển nên từ khi triển khai dự án Quy hoạch, bảo tồn và phát huy giá trị di tích cố đô Huế, 1996-2010, Trung tâm đã luôn luôn chú ý tạo điều kiện thuận lợi cho ngành du lịch và các hoạt động dịch vụ liên quan các cơ hội để phát triển; chủ động tham gia các diễn đàn quảng bá cho ngành du lịch, ký kết hợp tác với các đơn vị lữ hành đưa khách đến cố đô Huế, liên kết hợp tác với Hiệp hội Du lịch, Hiệp hội khách sạn của tỉnh, chủ động tổ chức các hoạt động kích cầu để thu hút du khách. Từ năm 2012 đến nay, Trung tâm đã thường xuyên tổ chức hoạt động quảng bá và kích cầu du lịch, nhằm thu hút ngày càng tăng số lượng du khách đến thăm cố đô Huế, thăm các di sản văn hóa. Doanh thu từ hoạt động du lịch dịch vụ luôn tăng trưởng với tốc độ rất nhanh. Từ năm 2012-2016, tổng doanh thu ngành du lịch dịch vụ của tỉnh đã đạt mức 2500- 3200 tỷ đồng/năm, đạt tỷ trọng từ 48% -53% GDP của toàn tỉnh.

Biểu đồ lượng khách tham quan Di tích Huế qua các năm 1993 - 2016

Di sản văn hóa cũng trở thành hạt nhân cho các hoạt động và sự kiện văn hóa của vùng đất cố đô. Với chủ đề “Di sản văn hóa với hội nhập và phát triển”, Festival Huế được tổ chức vào các năm chẳn, cùng với Festival Nghề truyền thống tổ chức vào các năm lẻ đã tạo nên một thương hiệu đặc biệt, có tiếng vang và sức thu hút to lớn không chỉ trong nước mà còn trên bình diện quốc tế.

***

Với những thành tựu to lớn đã đạt được trên tất cả các lĩnh vực trên, những người làm công tác bảo tồn cũng đã nhận được nhiều phần thưởng cao quý.

Trên bình diện quốc tế, Huế được UNESCO chính thức công nhận đã vượt qua “giai đoạn cứu nguy khẩn cấp” để bước vào “thời kỳ ổn định và phát triển”. Năm 2003, UNESCO công nhận Nhã nhạc cung đình Huế là “Kiệt tác văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại”. Và liên tục từ năm 2004 đến nay, Ủy ban Di sản Thế giới của UNESCO đều có thông điệp ca ngợi những thành tựu xuất sắc trên phương diện trùng tu di tích, bảo tồn di sản của Huế.

Nhật Hoàng Akihito tham quan Đại Nội Huế tháng 3 năm 2017

Ở trong nước, Trung tâm đã vinh dự được Chủ tịch nước CHXHCNVN tặng thưởng Huân chương Lao động Hạng Ba (1996), Hạng Nhì (2001) và Hạng Nhất (2006), trong nhiều năm liền đã nhận được Cờ Thi đua xuất xuất về ngành Bảo tồn Bảo tàng của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; nhiều tập thể và cá nhân trong Trung tâm đã được tặng thưởng Huân chương Lao động, Bằng khen của Chính phủ, bằng khen của các Bộ ngành TW…Trung tâm cũng đã được trao 02 Giải A Giải thưởng Cố đô về khoa học công nghệ cho 02 bộ Hồ sơ khoa học công nhận danh hiệu Di sản văn hóa thế giới cho Quần thể di tích cố đô và Nhã nhạc; Giải Vàng Sách Hay toàn quốc năm 2006 và 2008 cho bộ sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ tục biên v.v

Hiện nay Trung tâm đang nỗ lực thực hiện đề án đổi mới mô hình đơn vị theo hướng tinh gọn, hiệu quả và nâng cao năng lực hoạt động của bộ máy. Trong giai đoạn trước mắt, phấn đấu hoàn thành xuất sắc kế hoạch đầu tư công Trung hạn (2016-2010) đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt với 27 dự án trùng tu di tích, huy động tối đa nguồn lực, đặc biệt là nguồn xã hội hóa cho công tác trùng tu bảo tồn; thực hiện thành công Đề án nâng cao chất lượng phục vụ trong địa bàn khu di sản Huế và Đề án xã hội hóa hoàn toàn các hoạt động dịch vụ; bên cạnh đó đặc biệt chú trọng đẩy mạnh công tác bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể và cảnh quan môi trường gắn liền với khu di sản.

*

35 năm qua thực sự là chặng đường khó khăn gian khổ với rất nhiều thử thách, nhưng cũng là chặng đường gắn liền với những thành tựu to lớn của sự nghiệp bảo tồn di sản văn hóa Huế. Kỷ niệm 35 năm thành lập đơn vị chính là dịp toàn thể cán bộ công nhân viên chức, người lao động của Trung tâm nhìn nhận lại chặng đường đã qua, nhằm khắc phục các tồn tại, phát huy ngày các tốt hơn các giá trị di sản để phục vụ cho sự phát triển, góp phần xây dựng Thừa Thiên Huế trở thành một trung tâm văn hóa, du lịch của cả nước và khu vực.

TS. Phan Thanh Hải

Giám đốc Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, 
Ủy viên Hội đồng Di sản Văn hóa Quốc gia

 


[1] Xem thêm: Trần Đức Anh Sơn- Phan Thanh Hải, “Quần thể di tích cố đô Huế: Hai thế kỷ nhìn lại” đăng trong  Tuyển tập những bài nghiên cứu về triều Nguyễn. Sở KHCN&MT Thừa Thiên Huế- Trung tâm BTDTCĐ Huế xuất bản, Huế, 2002, tr 131-141.

[2] Hiện nay đã có 5 Di sản Văn hóa triều Nguyễn được UNESCO công nhận gồm: Quần thể Di tích Cố đô Huế - Di sản Văn hóa Thế giới (năm 1993); Nhã nhạc, Âm nhạc Cung đình Việt Nam - Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của Nhân loại (2003); Mộc bản triều Nguyễn - Di sản Tư liệu thế giới (năm 2009); Châu bản triều Nguyễn - Di sản Tư liệu thuộc Chương trình Ký ức Thế giới khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (2014); và Thơ văn trên kiến trúc Cung đình Huế - Di sản tư liệu thuộc Chương trình Ký ức Thế giới khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (2016).

[3] Tổng kinh phí tu bổ trong 15 năm (1996-2010) trên lĩnh vực trùng tu và tôn tạo di tích Cố đô Huế là:  586.312.000.000 đồng (đạt 81,4% kế hoạch dự kiến), trong đó: Ngân sách Trung ương là   250,460 tỉ đồng; Ngân sách địa phương là 245,497 tỉ đồng; Tài trợ Quốc tế  là 90,355 tỉ đồng

Trong 6 năm (2011-2016), ngân sách tu bổ đạt xấp xỉ 600 tỷ đồng, trong đó nguồn từ trung ương đạt 270 tỷ, ngân sách địa phương và tài trợ quốc tế đạt 330 tỷ. Riêng năm 2017, toàn bộ ngân sách dành cho trùng tu di tích và giải phóng mặt bằng đạt 180 tỷ đồng, trong đó nguồn vốn từ trung ương là  47 tỷ đồng, địa phương là 135 tỷ đồng ( Trong đó chuyển cho Thành phố Huế vốn giải phóng mặt bằng 35 tỷ đồng).                       

[4] Có không ít công trình khi tu bổ xong đã phát huy tốt hiệu quả kinh tế, xã hội như: Duyệt Thị Đường, Minh Khiêm Đường (nơi biểu diễn múa, hát, tuồng và các nhạc khúc Cung đình phục vụ du khách), Quảng trường Ngọ Môn - Kỳ  Đài. Các công trình hạ tầng Đại Nội, Quảng trường Ngọ Môn- Kỳ Đài, điện chiếu sáng Đại Nội, cung An Định và các lăng đã phục vụ tốt các lễ hội Festival và các hoạt động văn hóa xã hội khác.

[5] Xem thêm Phan Thanh Hải: “Cư dân trong vùng di tích-Lịch sử, hiện trạng và những ảnh hưởng đối với cơ cấu dân cư và chính sách phát triển của Thừa Thiên Huế”, Tạp chí Nghiên cứu & Phát triển, số 3/2008.

[6] Từ năm 2003- 2011,  doanh thu từ vé tham quan đạt 695 tỷ đồng; từ năm 2012-2016, chỉ trong 5 năm, doanh thu từ vé tham quan đã đạt gần 841,9 tỷ đồng.  Dự kiến, trong giai đoạn 2017-2026,  tổng doanh thu từ vé tham quan dự kiến sẽ đạt khoảng 3.800 tỷ đồng.

 
Các tin khác:
Trang chủLiên hệ
Liên kết Website
Bản quyền Website thuộc về Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế
Địa chỉ: Tam Toà, 23 Tống Duy Tân - Huế - Việt Nam
Điện thoại: +(84).234.3523237 - 3513322 - 3512751 - Fax: +(84).234.3526083
Email: huedisan@gmail.com
Xin ghi rõ nguồn “ Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế” khi sử dụng thông tin từ Website này.