Hình ảnh hoạt động
TẾ NAM GIAO - MỘT HOẠT ĐỘNG VĂN HOÁ ĐẶC SẮC CỦA CUNG ĐÌNH NGUYỄN
Cập nhật ngày: 26/04/2014 10:27:04
Theo quan niệm của người xưa, trời và đất là hai chủ thể sáng tạo ra nhân loại. Nói cách khác, đất trời tượng trưng cho cha và mẹ. Thế nên, dưới các triều đại phong kiến, hằng năm đều có lễ tế trời đất. Đây là nghi thức được xếp vào hàng Đại tự (lễ lớn) của quốc gia tại các nước Đông Á. Lễ tế này được gọi là tế Giao. Nguyên nghĩa chữ “Giao” là vùng đất ngoài thành khoảng một trăm dặm . Ngày xưa, vào tiết đông chí, vua tế trời ở Nam Giao, tiết hạ chí thì tế đất tại bắc Giao, nên tế trời, đất gọi là tế Giao . Khi lấy Kinh thành làm trung tâm, người xưa phân biệt Giao gồm có bốn vùng Nam, Bắc, Đông, Tây. Với quan niệm: “Thiên phúc địa tải” (đất chở trời che), từ xa xưa, con người phải cúng trời và đất với tâm niệm cầu “quốc thái dân an”, “thái bình thịnh trị”, và “phong điều vũ thuận” (mưa thuận gió hoà).

Theo nhiều thư tịch cổ, Việt Nam ngay từ những ngày đầu thoát khỏi ách thống trị ngàn năm của phương Bắc đã sớm tiếp nhận nghi lễ tế Giao. Ngoài triều Trần, các triều đại khác như Lý, Hồ, Lê cho đến Lê Trung Hưng, rồi các chúa Nguyễn ở miền Nam cho đến triều Tây Sơn đều tổ chức tế Giao. Sang thời Nguyễn, tế Giao được xem là lễ tế có qui mô và quan trọng nhất của triều đình. Đàn Nam Giao ngày nay được xây dựng về phía nam Kinh Thành được xây dựng vào năm 1906. Ở đây, nhà Nguyễn cho hợp tế cả trời, đất và tổ tiên. Thời gian đầu, triều Nguyễn tổ chức tế Giao vào mùa xuân hằng năm. Đến năm Thành Thái thứ 2 (1890), triều đình định lại ba năm tế Giao một lần vào các năm Tý, Mão, Ngọ, Dậu. Nghi lễ này được duy trì cho đến năm 1945, thời điểm cáo chung của phong kiến Việt Nam.

Đàn Nam Giao là đàn tế lớn nhất và là đàn tế duy nhất được xây dựng một cách công phu dưới thời quân chủ. Tổng diện tích của đàn Nam Giao khoảng 10 ha, mặt bằng 265 x 390 m. Do tế Giao là một một nét văn hoá đặc trưng của các nước châu Á nên mô thức kiến trúc của đàn Nam Giao cũng thể hiện rõ những triết lý Á Đông; cụ thể là đàn gồm có ba tầng, đại diện cho thuyết “tam tài” Thiên-Địa-Nhân.

Tầng thứ nhất ở trên cùng, hình tròn nên được gọi là Viên Đàn, tượng trưng cho trời và được sơn màu xanh. Từ năm 1846 trở đi, tòa nhà này được gọi là Hoàng Khung Vũ.

Tầng thứ hai có hình vuông nên được gọi là Phương Đàn. Phương đàn được sơn màu vàng – màu của hành thổ.

Tầng thứ ba: Tầng thứ ba, ở dưới cùng cũng có dạng hình vuông, được sơn màu đỏ tượng trưng cho con dân: “xích tử”.

Ở góc Đông Nam tầng ba có Liệu sở nơi dùng để đốt trâu tế, lụa và các thức ăn. Ở góc phía Tây Bắc có các hố dùng chôn lông và huyết trâu gọi là Ế sở; bốn góc có bốn liệu trụ lớn để treo đèn. Phía Đông ở trên tầng này có nhà Đại thứ để vua dừng lại làm lễ quán tẩy (rửa tay) trước khi hành lễ.

Ngoài ba tầng chính của Đàn, xung quanh khu vực này còn có các công trình phụ khác như Trai Cung, Thần Trù, Thần Khố, và một số công trình được dựng tạm trong quá trình tế như: Hoàng Ốc, Thanh Ốc, Đại Thứ, nhà Khoảng Tiếp, và nhà Quan Cư.

Tế Nam Giao là buổi tế quan trọng nhất trong năm của triều đình, nên việc tổ chức Tế Giao được chuẩn bị rất cẩn trọng. Thông thường, sau khi ngày tế Giao đã được ấn định, triều đình sẽ thực hiện tiếp thủ tục kỳ cáo trời đất. Tuân lệnh vua, khâm mạng đại thần là người kính báo với trời đất rằng: vào ngày ...tháng ... đó vua sẽ đến tế lễ trọng thể. Đặc biệt, trước khi tiến hành tế Nam Giao, triều đình còn phải làm lễ cáo với tiên đế tại các miếu ở Hoàng cung như Triệu Miếu, Thái Miếu, Thế Miếu, Hưng Miếu trước lễ chính thức hai ngày.

Các lễ cáo này vừa mang ý nghĩa báo cáo ngày, giờ tế với trời, đất và tổ tiên vừa hàm ý việc nhận mệnh lệnh từ tổ tiên để tổ chức lễ tế. Ngoài ra, triều đình nhà Nguyễn còn có ba tờ dụ niêm yết ở Phu Văn lâu để thông báo cho thần dân được biết về đại lễ này.

Do tính chất quan trọng của buổi lễ, thành phần quan lại trong buổi lễ đều được vua chỉ định theo sự đề cử của thượng thư bộ Lễ, trong đó bao gồm một khâm mạng đại thần nhất hoặc nhị phẩm, một Cung kiểm bộ Lễ, một Cung hầu hàm Lang Trung, hai Hành nghi hàm cửu phẩm, một Độc chúc chức viên ngoại và sau cùng là hai chấp sự.

Vua, được mệnh danh là thiên tử, tức con của trời, nhưng không vì “tình thân” ấy mà nhà vua có thể sơ xuất trong các nghi thức cúng tế “cha mẹ”. Trước khi tế Nam Giao, nhà vua phải hoàn toàn “trai giới” trong ba ngày. Trong thời gian đó, vua phải ăn chay, nằm đất, xa rời tửu sắc, hướng tâm đến những suy nghĩ trong sáng và một lòng thành kính đối với trời và đất.

 

Vào ngày tế, vua phải mặc trang phục của đại lễ gồm long cổn, mũ miện, tay cầm hốt trấn khuê bằng ngọc lên Giao đàn. Đầu tiên, vua ngự lên Giao đàn và làm lễ “quán tẩy” (lễ rửa tay) để gột bỏ những thứ không sạch trước khi tế. Sau phần quán tẩy là các nghi lễ quan trọng “lễ phần sài và ế mao huyết” (thiêu nghé và chôn lông, huyết), “lễ thượng hương” (dâng hương), “lễ nghinh thần” (mời thần đến), “lễ điện ngọc bạch” (dâng ngọc và lụa), “lễ tấn trở (dâng thịt tế), “lễ sơ hiến” (dâng rượu lần đầu), “lễ độc chúc” (đọc chúc văn), “lễ phân hiến”, “lễ Á hiến” (dâng rượu lần thứ hai), “lễ Chung hiến” (dâng rượu lần cuối), “lễ Tứ phúc tộ” (lễ ban rượu và thịt tế), “triệt soạn và phần hoá”, “tống thần”, “tư chúc bạch soạn”, và cuối cùng là “hoàng đế hồi cung”. Các nghi thức diễn ra vô cùng trang nghiêm trong khói hương, lễ phẩm, áo mão, cùng âm nhạc.

Có thể nói rằng, trong tất cả các nghi lễ thuộc hàng đại tự của triều Nguyễn, lễ tế Nam Giao được xem là quan trọng nhất. Với ý nghĩa đó, Uỷ ban Nhân dân Tỉnh Thừa Thiên Huế chỉ định Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế thực hiện buổi tế Giao theo đúng nghi thức cổ xưa, hoàn toàn không mang tính sân khấu hoá vào lúc 3giờ 30 rạng sáng 17 tháng 4 năm 2014 (nhằm ngày 18 tháng 3 năm Giáp Ngọ). Ngoài ý nghĩa bảo tồn văn hoá phi vật thể của triều Nguyễn, lễ tế Nam Giao trong dịp này đặc biệt thể hiện lòng tôn kính của lãnh đạo và nhân dân Thừa Thiên Huế đối với hồn thiêng sông núi. Tuy không phải là hoạt động chính thức trong khuôn khổ chương trình Festival Huế 2014 nhưng Tế Nam Giao 2014 hy vọng giới thiệu được đến với công chúng trong nước và quốc tế những giá trị văn hoá cung đình đặc sắc của triều Nguyễn-triều đại quân chủ cuối cùng của Việt Nam.

[1] Lý Hồng Phúc (biên tập), Khang Hi Tự điển, tr. 1257, Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, Thượng Hải, 2005.

[1] Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định việt sử thông giám cương mục, chính biên, quyển 11, tr. 327, viện Sử học dịch, NXB Giáo Dục, Hà Nội, 1998.

Ý Nhi
Các tin khác:
Trang chủLiên hệ
Liên kết Website
Bản quyền Website thuộc về Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế
Địa chỉ: Tam Toà, 23 Tống Duy Tân - Huế - Việt Nam
Điện thoại: +(84).234.3523237 - 3513322 - 3512751 - Fax: +(84).234.3526083
Email: huedisan@gmail.com
Xin ghi rõ nguồn “Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế” khi sử dụng thông tin từ Website này.